
Trong
bộ giáo luật hiện hành, không c̣n thấy nói tới chuông nhà thờ nữa. Như vậy
có nghĩa là từ nay có thể dùng chiêng trống phèn la, chứ không cần phải giật
chuông trong các nghi lễ phụng vụ nữa, phải không?
Trước hết,
chúng ta nên ghi nhận là so với bộ luật cũ, th́ quả là có khoảng trống lớn
trong giáo luật hiện hành về vấn đề chuông. Bộ luật cũ đă dành ra ba điều
luật để nói tới chuông nhà thờ (612, 1169, 1185). Cách riêng điều 1169 quy
định khá chi tiết về chuông nhà thờ, trong 5 khoản:
$1. Mỗi nhà thờ
nên có chuông, để mời gọi các tín hữu đến tham dự phụng vụ và các việc đạo
đức.
$2. Các chuông
nhà thờ cần được cung hiến hay chúc lành dựa theo các nghi thức ấn định
trong các sách phụng vụ.
$3 Việc sử dụng
chuông tùy thuộc hoàn toàn vào thẩm quyền của nhà chức trách Hội thánh.
$4. Ngoại trừ
những điều kiện do người đă dâng cúng chuông đă đặt ra và đă được Bản quyền
châu phê, một khi chuông đă được chúc lành th́ không được dùng vào những mục
tiêu phàm tục, đừng kể khi có lư do chính đáng và có phép của Bản quyền,
hoặc do tục lệ hợp pháp.
Sau cùng khoản
5 nói tới ai có thẩm quyền cung hiến hoặc chúc lành chuông.
Vậy nếu bộ luật hiện hành không c̣n nói tới chuông nhà thờ nữa, th́ hiểu là
từ nay Giáo hội để tùy tiện, ai muốn treo chuông hay treo trống cũng được,
và cũng chẳng cần phải cung hiến hay chúc lành ǵ nữa, phải không?
Nói rằng không
c̣n có luật lệ ǵ về chuông nhà thờ th́ không đúng. Chúng ta sẽ để cho các
sử gia t́m hiểu lư do tại sao bộ luật mới không c̣n nói đến chuông nhà thờ
nữa. Tuy nhiên, chúng ta thấy rằng trong sách nghi lễ phụng vụ dành cho các
Giám mục (Caerimoniale episcoporum) do bộ Phụng tự xuất bản năm 1984 (nghĩa
là một năm sau bộ giáo luật), có một chương dành cho việc chúc lành chuông
nhà thờ, với nghi thức lấy từ quyển ₡De Benedictionibus‛ được ban hành cùng
năm. Điểm đầu tiên cần được ghi nhận là sách phụng vụ không c̣n nói tới cung
hiến hoặc chúc lành (consecratio vel benedictio) chuông như trước, mà chỉ
nói tới ‛chúc lành‛ mà thôi. Trong bộ luật cũ, việc cung hiến bao gồm việc
xức dầu thánh; c̣n từ nay th́ không c̣n xức dầu thánh trên chuông nữa, mà
chỉ c̣n rảy nước thánh. Các nghi thức rửa chuông phỏng theo nghi thức rửa
tội cũng bị bỏ luôn. Điều thứ hai đáng ghi nhận là việc chúc lành chuông
không c̣n dành cho đức Giám mục như trước (nhất là v́ hồi đó c̣n có chuyện
cung hiến), nhưng mà có thể được cử hành bởi cha sở hay linh mục quản đốc
thánh đường. Điều thứ ba cần ghi nhận là chuông chỉ cần chúc lành khi được
sử dụng sau khi đă có nhà thờ. C̣n khi chuông được khánh thánh cùng lúc với
nhà thờ mới, th́ không cần phải làm lễ chúc lành riêng cho các chuông, bởi
v́ việc cung hiến và chúc lành nhà thờ bao gồm luôn việc chúc lành các vật
dụng phụng tự (như là: chuông, đàn, tượng ảnh, vv). Đó là ba chi tiết quan
trọng dưới khía cạnh pháp lư (nghĩa là xét về thẩm quyền và chất liệu). C̣n
dưới khía cạnh huấn giáo mục vụ, c̣n có những chi tiết khác mà sách phụng vụ
muốn nêu bật trong các bài giảng và lời nguyện, tiên vàn là vai tṛ của
chuông đối với đời sống cộng đoàn. Thường th́ chúng ta coi cái chuông như
dấu báo hiệu sắp sửa tới giờ lễ rồi. Chuông ra như có vẻ mời mọc thúc giục
các tín hữu chuẩn bị đi nhà thờ. Thế nhưng, ngoài cái vai tṛ giục giă như
vậy, ta cũng có thể gán cho nó vai tṛ quy tụ, triệu tập các tín hữu lại để
cùng nhau thờ phượng Chúa.
Nhưng mà có nơi c̣n giật chuông tử nữa, chứ đâu phải chỉ có giật chuông để
báo hiệu sắp tới giờ lễ?
Đúng như vậy,
chính v́ thế mà vừa rồi tôi có nói tới vai tṛ của tiếng chuông trong đời
sống cộng đoàn. Nó không những chỉ giục giă các tín hữu tới nhà thờ đọc
kinh cầu nguyện, nhưng nó c̣n thông báo những biến cố quan trọng của cộng
đoàn. Nhiều nơi có thói tục giật chuông để loan báo có một người vừa tạ thế,
mà ta gọi là chuông tử. Có nơi giật chuông khi có tin vui, tựa như khi cử
hành đám cưới, hay là tiếp đón một thượng khách (thí dụ đức Giám mục giáo
phận đến thăm). Và mới đây vài cha sở bên Italia cho giật chuông khi một em
bé mới chào đời. Dù sao, th́ từ lâu, tục lệ dân gian đă tóm lại 6 vai tṛ
của chuông qua hai câu thơ bằng tiếng La-tinh như sau: Laudo Deum, plebem
voco, congrego clerum, defunctos ploro, pestem fugo, festa decoro: tôi ca
ngợi Chúa, kêu gọi nhân dân, triệu tập giáo sĩ, thương khóc người chết, đuổi
xa dịch tễ, thông báo lễ lạc.
Chắc ai cũng hiểu rơ những chức phận vừa kể. Nhưng sao lại có chuyện xua
đuổi dịch tễ?
Tôi không rơ
cho lắm. Tuy nhiên, có điều chắc là tại nhiều miền thôn quê, mỗi khi trời bị
phủ mây đen nghịt báo sắp có mưa to, th́ người ta giật chuông nhà thờ. Để
làm ǵ vậy? Thưa là để tránh cho khỏi sét đánh. Đây không phải là chuyện mê
tín dị đoan, nhưng có căn bản khoa học: việc giật chuông sẽ gây ra những làn
sóng trên không trung, đánh tan bầu khí nặng nề, tức là môi trường tích tụ
tiếng sét. Nói thế không có nghĩa là các tháp nhà thờ không cần cột thu lôi
nữa.
Đó là các vai tṛ cổ truyền của chuông nhà thờ. Nhưng nó đă thuộc vào quá
khứ xa xưa rồi, và gắn liền với văn minh Âu Tây. Ngày nay đă đến lúc, chúng
ta phải trở về với văn hóa dân tộc. V́ thế, thay v́ giật chuông, tại sao
ḿnh không dùng trống chiêng?
Chuyện thay thế
chuông nhà thờ bằng trống chiêng th́ không thuộc thẩm quyền của tôi. Thực ra
th́ kể cả trong bộ giáo luật cũ cũng không có việc bắt buộc mỗi nhà thờ phải
có chuông: nhà lập pháp chỉ nói là ₡nên có‛ (convenit). Nên biết là các sử
gia đều đồng ư rằng việc sử dụng chuông vào việc phụng tự không hề gắn liền
với Kitô giáo. Thực vậy, các tài liệu lịch sử cho thấy là các chùa bên Trung
quốc đă sử dụng chuông từ xa xưa, hàng chục thế kỷ trước công nguyên. C̣n về
phía Kitô giáo, th́ măi tới thế kỷ V-VI mới thấy nói tới, và trở thành thông
dụng từ thế kỷ VII. Dù sao, dù không sành điệu về âm nhạc, người ta có thể
nhận thấy có sự khác biệt giữa tiếng chuông chùa với tiếng chuông nhà thờ.
Chuông chùa có vẻ trầm hơn, và đánh từ từ từng tiếng một; c̣n chuông nhà thờ
th́ thanh hơn, và thường đánh liên hồi. Và nói chung th́ các nhà thờ càng
sang th́ không những người ta gắn chuông to mà lại c̣n liệu cho thật nhiều
chuông nữa. Xét về chuông to, th́ giải quán quân được dành cho các ngôi nhà
thờ tại Mơscơva, với những quả chuông nặng 65 tấn. C̣n xét về bộ, th́ có nơi
làm thành giàn 14-15 chiếc, với những cung độ của nó, có thể đánh thành bài
hát. Thực ra, th́ một số chức năng của chuông nhà thờ nay đă bị lấn át rồi,
trong số đó, phải nói tới chức năng báo giờ. Lúc đầu, trong các đan viện,
người ta giật chuông để báo cho các tu sĩ giờ giấc khi thức dậy, đọc kinh,
làm việc, vv. Sau đó, các giáo xứ cũng giật chuông không những để báo hiệu
cho các tín hữu đi nhà thờ mà để cho biết giờ nữa; một cách cụ thể là ba lần
một ngày khi xướng kinh Truyền tin. Ngày nay, hầu hết các tu sĩ và tín hữu
đă có đồng hồ đeo tay, nên họ không c̣n ngóng chuông nhà thờ nữa. Dù vậy,
chúng ta cũng thấy có những hăng đồng hồ đă tạo ra cung điệu chuông nhà thờ
để báo các giờ hay khắc.
Mặt khác, cũng có những nhà thờ cho quay đĩa chuông thay v́ giật chuông
thật; v́ vậy mà chuông nhà thờ lại càng mất giá trị phải không?
Ta không nên
buộc tội cho những giáo xứ đă đánh chuông giả bằng máy ampli là đă phá giá
chuông thật. Có lẽ bởi v́ họ quá nghèo, không đủ tiền sắm chuông đấy thôi.
Thực ra th́ trong lịch sử, các quả chuông lớn đă bị cạnh tranh bởi các đồng
nghiệp khác, đó là các chuông nhỏ.
Các chuông nhỏ mà các chú giúp lễ vẫn lắc phải không?
Đúng như vậy.
Tuy nhiên, nên lưu ư là không phải phụng vụ đă tạo ra các chuông đó đâu. Lúc
đầu, nó chỉ là dụng cụ để lôi kéo sự chú ư, đă được dân Rôma sử dụng từ lâu.
Tôi c̣n nhớ trước đây ở Việt Nam, mấy em bé đi bán kem cũng lắc cái chuông
như vậy, đó là chưa nói tới các cái chuông buộc vào cổ ḅ hay cổ trâu. Người
ta du nhập vào phụng vụ để kêu gọi nhắc nhở các tín hữu hăy chú ư v́ sắp có
chuyện quan trọng.
Nhưng mà càng ngày người ta càng ít xài tới chuông bé ấy trong Thánh lễ, tại
sao vậy?
Lư do dễ hiểu.
Trước đây, Thánh lễ được cử hành bằng tiếng La-tinh. Các tín hữu theo dơi mà
không hiểu ǵ và cũng không thấy ǵ, bởi v́ họ thường đứng xa bàn thờ. Bởi
đó, cần có chú giúp lễ quỳ gần bàn thờ lắc chuông báo hiệu, nhất là vào hồi
linh mục sắp đọc lời chúc tụng trên bánh và rượu. Nên biết là vào thời Trung
cổ, tại các đan viện và giáo xứ, người ta giật chuông lớn khi linh mục dâng
Ḿnh và Máu Thánh Chúa, ngơ hầu không những các người hiện diện tại chỗ mà
thậm chí các người làm việc ngoài đồng cũng có thể kết hiệp thờ lạy Chúa.
Một cách tương tự như vậy, người ta cũng giật chuông khi ban phép lành Ḿnh
Thánh Chúa. Dần dần, người ta thay chuông lớn bằng chuông nhỏ. Thế nhưng sau
công đồng Vaticanô II, nhiều nơi thấy chuông nhỏ không c̣n cần thiết nữa từ
khi phụng vụ được cử hành bằng tiếng bản quốc, và mọi người có thể theo dơi
dễ dàng các nghi lễ diễn ra trên bàn thờ. Như chị đă biết, trước đây, bàn
thờ được cất ở cuối nhà thờ và chủ tế th́ quay lưng ra bổn đạo, nên chỉ có
chú bé giúp lễ đứng gần đó mới biết có chuyện ǵ xảy ra và lắc chuông cho
cộng đoàn biết. Bây giờ th́ cộng đoàn không cần tới tiếng báo hiệu của chú
giúp lễ nữa bởi v́ họ thấy hết các hành vi của linh mục rồi.
Giuse Phan Tấn Thành, op.